Thứ Ba, 2 tháng 10, 2018

Thơ Puskin Song Ngữ - P. 29


199.ANH Ở ĐÂY, INESILLA

Anh ở đây, Inesilla
Đứng đây, ngoài cửa sổ
Thành phố Sevilla
Đang chìm trong giấc ngủ.

Lòng can đảm dâng đầy
Trong áo choàng vây kín
Với ghi ta và kiếm
Anh đứng ở nơi này.

Em ngủ ư? Anh đàn
Để đánh thức em đấy.
Nếu ông già thức dậy
Kiếm bắt ông đi nằm.

Hãy lấy dây lụa mềm
Buộc chặt vào cửa sổ…
Sao mà em chậm thế?
Hay có ai trong phòng?..

Anh đây, Inesilla
Đứng đây, ngoài cửa sổ
Thành phố Sevilla
Đang chìm trong giấc ngủ.
1830
____________
*Đây là bài thơ Puskin mô phỏng bài Serenade (Inesilla! I am here...) của nhà thơ Anh Bryan Procter – bút danh là Barry Cornwall (1787–1874). Sevilla là thành phố ở Tây Ban Nha. Puskin viết bài này cho vở kịch Vị khách bằng đá.

Я здесь, Инезилья

Я здесь, Инезилья,
Я здесь под окном.
Объята Севилья
И мраком и сном.

Исполнен отвагой,
Окутан плащом,
С гитарой и шпагой
Я здесь под окном.

Ты спишь ли? Гитарой
Тебя разбужу.
Проснётся ли старый,
Мечом уложу.

Шелковые петли
К окошку привесь…
Что медлишь?.. Уж нет ли
Соперника здесь?..

Я здесь, Инезилья,
Я здесь под окном.
Объята Севилья
И мраком и сном.
1830


200.DỊCH BARRY CORNWALL*

Here's a health to thee, Mary**

Anh uống chúc sức khỏe
Cho Mary của anh.
Khóa trái cửa lặng lẽ
Chỉ mình ta với mình
Chúc Mary sức khỏe.

Có thể xinh đẹp hơn
Cả Mary của anh
Cô tiên này nhỏ bé
Nhưng dễ thương không thể
Bằng Mary dịu dàng.

Hãy hạnh phúc nghe em
Mặt trời của đời anh!
Không khổ đau, buồn chán
Không những ngày u ám
Đến trong cuộc đời em.
1830
______________
*Puskin phỏng dịch Song (Here's a health to thee, Mary...) của Barry Cornwall.
**Here's a health to thee, Mary – Chúc sức khỏe em, Mary.

Из Barry Cornwall

Here's a health to thee, Mary

Пью за здравие Мери,
Милой Мери моей.
Тихо запер я двери
И один без гостей
Пью за здравие Мери.

Можно краше быть Мери,
Краше Мери моей,
Этой маленькой пери;
Но нельзя быть милей
Резвой, ласковой Мери.

Будь же счастлива, Мери,
Солнце жизни моей!
Ни тоски, ни потери,
Ни ненастливых дней
Пусть не ведает Мери.
1830
  

201.TRƯỚC NGÔI MỘ THIÊNG

Trước ngôi mộ thần thánh và thiêng liêng
Tôi đứng yên, mái đầu tôi cúi xuống
Bốn phía ngủ yên, chỉ những ngọn đèn
Trong bóng tối của ngôi đền vàng óng
Những cây cột đá hoa cương to lớn
Những lá cờ treo trên đó thành hàng.

Phía dưới ngủ yên chúa tể oai hùng
Là thần tượng của đội binh phương Bắc
Người canh giữ đáng kính của Đại cường
Người quy phục biết bao nhiêu kẻ địch
Từ bầy chim ưng vinh quang hiển hách
Còn lại đây một ít của Nữ Hoàng.

Trong mồ ông niềm hân hoan đang sống
Ông công bố lời Nga cho chúng ta
Quả quyết với ta trong tháng năm, mà
Giọng tin tưởng của nhân dân lên tiếng
Hướng mái đầu ông bạc trắng gọi to:
“Hãy ra trận!” và ông vào trận đánh… 

Giờ hãy nghe lời chúng tôi trung thực
Hãy đứng lên và hãy cứu Nga hoàng
Ôi, ông già nghiêm khắc! Trong phút chốc
Hãy hiện lên bên ngôi mộ của ông
Hãy đứng lên, khoan khoái và mẫn tiệp
Với những binh đoàn bỏ lại của ông!

Hãy hiện lên và lấy tay của mình
Chỉ cho chúng tôi trong bao tướng lĩnh
Ai thừa kế, ai người ông lựa chọn!
Nhưng ngôi đền – trong im lặng đắm chìm
Vẻ lặng yên của ngôi mồ chiến trận
Rất điềm nhiên trong giấc ngủ vĩnh hằng…
1831
________________
*Bài thơ về Mikhail Illarionovich Kutuzov (1745 – 1813) là một vị Nguyên soái trong lịch sử Nga. Tên tuổi của ông gắn liền với giai đoạn hùng mạnh của Đế quốc Nga vào cuối thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19. Mộ của ông ở trong đền Kazan ở Saint Petersburg.

Перед гробницею святой

Перед гробницею святой
Стою с поникшею главой…
Всё спит кругом; одни лампады
Во мраке храма золотят
Столпов гранитные громады
И их знамён нависший ряд.

Под ними спит сей властелин,
Сей идол северных дружин,
Маститый страж страны державной,
Смиритель всех её врагов,
Сей остальной из стаи славной
Екатерининских орлов.

В твоём гробу восторг живёт!
Он русский глас нам издаёт;
Он нам твердит о той године,
Когда народной веры глас
Воззвал к святой твоей седине:
«Иди, спасай!» Ты встал — и спас…

Внемли ж и днесь наш верный глас,
Встань и спасай царя и нас,
О старец грозный! На мгновенье
Явись у двери гробовой,
Явись, вдохни восторг и рвенье
Полкам, оставленным тобой!

Явись и дланию своей
Нам укажи в толпе вождей,
Кто твой наследник, твой избранный!
Но храм — в молчанье погружён,
И тих твоей могилы бранной
Невозмутимый, вечный сон…
1831


202.TIẾNG VỌNG

Thú dữ có gầm rống lên trong rừng
Tù và có thổi, sấm có rền vang
Thiếu nữ sau đồi có cất tiếng hát
Thì với mỗi âm thanh
Phản hồi của anh giữa không trung
Anh sinh ra đột ngột.

Anh nghe theo tiếng rầm rầm của sấm
Và nghe theo tiếng sóng, tiếng bão giông
Và tiếng kêu của mục phu trên đồng
Và câu trả lời anh gửi
Không ai bình phẩm gì anh
Thì anh là thi sĩ!
1831

Эхо

Ревет ли зверь в лесу глухом,
Трубит ли рог, гремит ли гром,
Поет ли дева за холмом —
На всякий звук
Свой отклик в воздухе пустом
Родишь ты вдруг.

Ты внемлешь грохоту громов,
И гласу бури и валов,
И крику сельских пастухов —
И шлешь ответ;
Тебе ж нет отзыва... Таков
И ты, поэт!
1831


203.THẦN VUI CỦA RƯỢU NHO

Thần vui của rượu nho*
Cho phép ta ba chén
Trong tiệc chiều ta uống.
Đầu tiên chúc vị thần
Trần truồng và e thẹn**
Chén thứ hai ta uống
Chúc sức khỏe má hồng
Chén thứ ba ta uống
Chúc tình bạn lâu năm.
Sau ba chén người khôn
Hoa trên đầu bỏ xuống
Và bày tỏ cảm tình
Với Morpheus cao thượng***.
1832
_________________
*Đây là bài thơ Pushkin mô phỏng thơ của nhà thơ Hy Lạp Eubulus (thế kỷ IV tr. CN).
**Vị thần trần truồng và e thẹn là vị thần ba trong một gọi là Charites (Hy Lạp) hoặc Gratiae (La Mã) tượng trưng cho niềm vui của cuộc đời.
*** Morpheus là thần của giấc ngủ.

Бог веселый винограда

Бог веселый винограда
Позволяет нам три чаши
Выпивать в пиру вечернем.
Первую во имя граций,
Обнаженных и стыдливых,
Посвящается вторая
Краснощекому здоровью,
Третья дружбе многолетной.
Мудрый после третьей чаши
Все венки с главы слагает
И творит уж излиянья
Благодатному Морфею.
1832




204.NGƯỜI ĐẸP

Tất cả nàng hài hòa, tuyệt mỹ
Cao hơn thế giới, hơn mọi đam mê
Nàng sống trong vẻ e ấp, rụt rè
Trong sắc đẹp của mình trang trọng
Và nàng nhìn thấy mình khắp mọi hướng:
Không ai sánh được với nàng
Trước vẻ đẹp của nàng tỏa sáng
Bao nhiêu người đẹp khác biến mất tăm.

Và dù cho bạn đi đâu vội vàng
Dù cho bạn đến với tình gặp gỡ
Và dù cho bạn trong tim ấp ủ
Một mơ ước kín thầm –
Nhưng gặp nàng, sẽ bối rối ngượng ngùng
Và bỗng nhiên dừng lại không chủ ý
Như một kẻ hành hương sùng mộ
Trước vẻ đẹp chốn thiêng liêng.
1832
__________________
*Bài thơ về người đẹp Elena Zavadovskaya (Vlodek).

Красавица

Всё в ней гармония, всё диво,
Всё выше мира и страстей;
Она покоится стыдливо
В красе торжественной своей;
Она кругом себя взирает:
Ей нет соперниц, нет подруг;
Красавиц наших бледный круг
В её сияньи исчезает.

Куда бы ты ни поспешал,
Хоть на любовное свиданье,
Какое б в сердце ни питал
Ты сокровенное мечтанье, —
Но, встретясь с ней, смущённый, ты
Вдруг остановишься невольно,
Благоговея богомольно
Перед святыней красоты.
16 мая — июнь 1832


205.GHI VÀO ALBUM TIỂU THƯ A. D. ABAMELEK

Ngày nào đó (nhớ lại thấy mủi lòng)
Với lòng cảm phục, tôi săn sóc em
Em từng là đứa bé con tuyệt diệu
Rồi em lớn lênvới sự tôn sùng
Đến bây giờ tôi vẫn ngưỡng mộ em.
Tôi mang theo con tim và ánh mắt
Đi theo em thấy rạo rực trong lòng
Như bà nhũ mẫu của em ngày trước
Tôi tự hào về vinh quang của em.
1832

В альбом княжны А. Д. Абамелек

Когда-то (помню с умиленьем)
Я смел вас няньчить с восхищеньем,
Вы были дивное дитя.
Вы расцвели — с благоговеньем
Вам ныне поклоняюсь я.
За вами сердцем и глазами
С невольным трепетом ношусь
И вашей славою и вами,
Как нянька старая, горжусь.
9 апреля 1832


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét